CategoriesVĩ mô & Thị trường

Vĩ mô quý 2 có gì hot ?

  • GDP tăng trưởng mạnh nhất kể từ thời điểm Covid xuất hiện, đạt 7,72%. Thực ra thì con số này không quá bất ngờ vì (1) mức base cùng kỳ không phải là con số cao và (2) tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ được bung ra sau một thời kỳ đóng băng quá lâu do ảnh hưởng bởi Covid. 2 quý cuối năm lại là mức base thấp hơn nữa, đặc biệt là quý 3/2021 tăng trưởng GDP âm mạnh thì rõ ràng năm nay hoàn toàn có cơ sở để GDP cả năm vượt 7% – tức quay lại mức trước dịch. Một hiện tượng khá thú vị lần đầu xảy ra – GDP của khối công nghiệp vượt dịch vụ. Bên cạnh những ảnh hưởng của yếu tố dịch bệnh thì điều này cũng cho thấy sự chuyển mình của Việt Nam từ một quốc gia đang phát triển – sang một quốc gia công nghiệp hóa hiện đại hóa. Bóng dáng của một cường quốc công nghiệp trong tương lai là đây chứ đâu.
  • Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng trưởng vô cùng ấn tượng, đạt 27,3% trong tháng 6 và 19,5% trong quý 2. Đây là sự kết hợp giữa nhu cầu tiêu dùng phục hồi sau khi đại dịch lắng xuống và… giá hàng hóa – dịch vụ tăng mạnh (+7,9% so với cùng kỳ – theo GSO). Dù sao thì chúng ta cũng còn ít nhất 7 tháng nữa có chỉ tiêu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng trưởng vượt 20% khi mức nền của các tháng cuối năm là vô cùng thấp, đây là cơ sở vững chắc để tăng trưởng GDP cả năm có thể vượt 7% như đã nói ở trên.
  • Khối sản xuất vẫn giữ được phong độ (IIP +10,8% Q2, YoY) với đầu tầu là hoạt động công nghiệp chế biến chế tạo (+12,3%, Q2, YoY). Tương tự khối dịch vụ, hầu hết các hoạt động bị ảnh hưởng bởi Covid đều có sự hồi phục tích cực và ít nhất còn kéo dài cho đến hết năm nay.
  • FDI tăng mạnh trở lại sau 4 tháng tăng trưởng âm liên tiếp. Ý nghĩa hơn khi dòng vốn chủ yếu chảy vào hoạt động công nghiệp chế biến chế tạo – lĩnh vực tạo nhiều công ăn việc làm nhất cho lao động Việt Nam. Để ý kỹ hơn, sau khi chính phủ siết lại tín dụng của lĩnh vực bất động sản thì dòng vốn ngoại đăng ký vào lĩnh vực này cũng dậm chận tại chỗ trong các tháng gần đây. Cùng với mảng năng lượng đang có dấu hiệu bão hòa sau khi đầu tư ồ ạt trong những năm trước thì trọng trách thu hút vốn FDI có lẽ sẽ đặt nhiều vào lĩnh vực chế biến chế tạo và bán lẻ. Nhìn chung, không có sự kỳ vọng nào FDI sẽ có sự đột biến trong năm nay, các tháng tới có thể thấy tốc độ đăng ký FDI bằng hoặc thấp hơn cùng kỳ là bình thường.
  • Cán cân thương mại chuyển từ trạng thái thâm hụt 1,7 tỷ USD trong tháng 5 sang thặng dự nhẹ gần 300 triệu USD. Lũy kế hết quý 2, cán cân thương mại thâm hụt khoảng 750 triệu USD. Hoạt động thương mại quốc tế vẫn đang diễn ra tương đối bình thường, chưa xuất hiện dấu hiệu bất động nào. Tăng trưởng xuất nhập khẩu duy trì mức trên 2 con số, cả khu vực trong nước và FDI cũng tăng trưởng khá đồng đều. Tuy nhiên nhìn xa hơn trong các quý tới, cán cân thương mại có thể tiếp tục ghi nhận con số thâm hụt, thậm chí là lớn hơn khi (1) Mỹ – bạn hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam (chiếm khoảng 1/3 tỷ trọng) đang đối diện với nguy cơ suy thoái kinh tế và (2) Trung Quốc – đối tác nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam (cũng khoảng 1/3 tỷ trọng) mở cửa trở lại nền kinh tế sau giãn cách.
  • Đến ly Highland còn tăng giá hơn 10% mà CPI cả tháng chỉ tăng 0,7% so với tháng trước đó thì có vẻ là hơi thấp. Bình quân 6 tháng đầu năm, lạm phát vẫn đang được kiểm soát dưới mức mục tiêu 4%, cụ thể chỉ đạt 2,44%. Mặc dù vậy, có thể thấy được xu hướng của chỉ số tăng trưởng CPI bình quân đang là dốc lên, tức là lạm phát đang mạnh dần qua các tháng. Chúng ta đang có một số yếu tố hỗ trợ cho chỉ số CPI chưa tăng mạnh như giá thịt lợn vẫn đang đi ngang ở nền thấp, học phí chưa tang do trong kỳ nghỉ hè, EVN trợ giá điện… Tuy nhiên, các tháng cuối năm lại là bài toán khó để kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu khi mức nền CPI của những tháng cuối năm là rất thấp, và rất có thể những yếu tố hỗ trợ kể trên sẽ không còn được duy trì nữa. Nhìn chung, khả năng cao CPI năm nay sẽ vượt mức mục tiêu 4% mà chính phủ đề ra.
  • Vốn đầu tư phát triển tăng trưởng đều ở cả 3 khu vực: công, tư và FDI. Tuy nhiên, tốc độ giải ngân vốn đầu tư NSNN có vẻ chưa đạt kỳ vọng khi đầu năm chính phủ tỏ ra rất quyết tâm đẩy mạnh đầu tư công trong năm nay để thúc đẩy kinh tế. Sự chậm chạp xảy ra chủ yếu ở dòng vốn địa phương – dòng vốn chiếm trọng yếu trong giải ngân NSNN. Có 2 nguyên nhiên khiến tốc độ giải ngân NSNN tương đối châm là do (1) giá vật liệu xây dựng tăng mạnh trong các tháng trước khiến cho tiến độ các dự án xây dựng bị chần chừ và (2) sự thanh lọc bộ máy đang diễn ra rất gắt gao khiến cho các địa phương cũng “giảm đi sự tự tin” trong việc triển khai vốn NSNN mới. Tình hình đến cuối năm, khả năng đầu tư công sẽ chưa có nhiều sự cải thiện do những yếu tố kể trên chưa được khắc phục và mức tăng trưởng kinh tế hiện tại là khá hài lòng đối với chính phủ mà chưa cần tác động thêm chính sách tài khóa.
  • Thời kỳ tiền rẻ đã đi qua và không biết khi nào trở lại. SBV chính thức khởi động lại kênh tín phiếu lần đầu kể từ cách đây hơn đúng 2 năm, sau khi buông kênh này nhằm chủ động duy trì lãi suất siêu thấp trong đại dịch. Mặc dù chỉ mới tái khởi động nhưng động thái lần này của SBV là rất gắt gao: hút ròng từ hệ thống ngân hàng gần 100 nghìn tỷ chỉ trong vòng 5 ngày, tức là một gần hút gần 20 nghìn tỷ. Có 2 mục tiêu trong hành động lần này của SBV: (1) hạ nhiệt tỷ giá qua việc tác động đến lượng tiền VND trong hệ thống và nâng mặt bằng lãi suất để giữ chân dòng vốn ngoại và (2) chuẩn bị cho quá trình thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát trong tương lai. Hệ quả trong ngắn hạn là lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm đã có sự nhích tăng đầu tiên, những vẫn ở mức thấp.
  • Mặc dù tỷ giá đang có dấu hiệu căng thẳng, song so với độ mất giá của VND (-1,8%) so với các đồng tiền khác trong 6 tháng trở lại đây như JPY (-18,8%), PHP (-7,7%), CNY (-5,2%), MYR (-5,3%), THB (-5,1%)… thì rõ ràng tình hình ở Việt Nam đang ổn hơn rất nhiều. Hơn nữa, SBV đang sở hữu một kho đạn dược khổng lồ sẵn sàng làm dịu cơn khát của thị trường bất cứ khi nào với hơn 106 tỷ USD dự trữ ngoại hối tính đến hết tháng 3.
  • Tín dụng tiếp tục tăng trưởng mạnh trong quý 2 bất chấp những hành động siết dòng tín dụng của lĩnh vực bất động sản. Tính đến hết ngày 20/06, tổng tín dụng của nền kinh tế tăng 8,51% so với đầu năm, đây là mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, kể từ 2018. Điều này một mặt cho thấy nhu cầu vốn kinh doanh sau khi nền kinh tế mở cửa trở lại là rất lớn, một mặt đẩy nhiều bank rơi vào trạng thái cạn room, gây khó khăn cho tăng trưởng của ngành trong các quý tới. Trong khi đó, tăng trưởng huy động lại có phần khiêm tốn hơn (+4,0%), đặc biệt là ở khu vực dân cư khi mặt bằng lãi huy động vẫn đang ở mức khá thấp.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *