Topic review nhanh báo cáo tài chính quý 3

Review báo cáo tài chính quý 3

Các doanh nghiệp mới cập nhật mình sẽ review ở comment ở bên dưới topic !

#ANV: Doanh thu thuần đạt 1127 tỷ và lợi nhuận sau thuế đạt 152.8 tỷ, tăng lần lượt 7.2% và 33.8% so với cùng kỳ. Nhìn chung KQKD quý 3 của ANV không thay đổi nhiều so với quý 2, biên lợi gộp duy trì ở mức trên 20%. Thị trường xuất khẩu lớn nhất của Nam Việt là Trung Quốc vẫn duy trì tích cực khi tăng 26% trong 8 tháng đầu năm. Về dự án Bình Phú, khoản mục xây dựng cơ bản dở dang của dự án này trong BCTC không có nhiều sự thay đổi. Theo thông tin cập nhập, tính đến quý 3 2019 dự án đã có 200 ao cá thịt và 40 ao cá giống đã được thả. Với tổng công suất thiết kế 200k tấn cá/năm, dự án Bình Phú khi hoàn thành có thể tăng nguồn cá nguyên liệu cung cấp cho ANV gấp hơn 2 lần so với hiện tại.

#DRC: Doanh thu thuần đạt 970.6 tỷ và lợi nhuận sau thuế đạt 81.8 tỷ , tăng lần lượt 9% và 163.9% so với cùng kỳ. Điểm nhấn trong BCTC quý 3 của DRC là biên lãi gộp tăng vọt lên mức 16.7% so với mức 14.3% trong quý 2 và 12.1% so với cùng kỳ. Đây là mức biên lợi kỷ lục của DRC trong vòng 3 năm trở lại đây. Có được điều này là nhờ sự cải thiện trong mảng lốp radial, cụ thể là việc công ty mở rộng thị trường xuất khẩu sang Mỹ với sảng lượng hơn 10 nghìn lốp mỗi tháng. Bảng cân đối kể toán của doanh nghiệp không có nhiều sự thanh đổi lớn, lợi nhuận thu về từ HDKD công ty dùng chi trả các khoản nợ làm giảm tỷ lệ đòn bẩy từ 1.8 lần về mức 1.6 lần.

#TNG: Doanh thu thuần đạt 1,526.4 và lợi nhuận đạt 81.2 tỷ, tăng trưởng lần lượt 23.1% và 28.1% so với cùng kỳ. Cơ cấu tài sản có sự thay đổi lớn ở khoản mục hàng tồn kho khi giá trị khoản mục này giảm từ 1187 tỷ về 855 tỷ, chủ yếu từ giảm thành phẩm và nguyên vật liệu. Điều này cho thấy công ty vừa bàn giao nhiều đơn hàng lớn trong quý 3 và khả năng sẽ khó phát sinh thêm trong quý 4. Yếu tố này cũng là tác nhân chính giúp dòng tiền kinh doanh từ âm 381 tỷ trong 6 tháng đầu năm chuyển sang dương 35 tỷ trong 9 tháng. Khoản mục vay ngắn hạn giảm từ 1535 tỷ về 1248 tỷ, đưa tỷ số nợ vay/vốn chủ giảm xuống còn 1.5 lần cũng là một yếu tố tích cực trong BCTC quý 3 của TNG.

#PNJ: Sau một quý tăng trưởng âm do sự cố quản trị ERP, PNJ đã lấy lại được phong độ của mình với mức tăng trưởng 24.9 % về doanh thu và 17.1 % về lợi nhuận. Tuy nhiên một điểm trừ là biên lãi gộp của công ty giảm nhẹ từ mức 21.5% của 2 quý đầu năm xuống mức 19.1%. Hàng tồn kho trong kỳ tăng mạnh lên mức 5892 tỷ, chủ yếu đươc tài trợ bằng các khoản vay ngắn hạn (nợ vay ngắn hạn tăng hơn 836 trong kỳ). So với tốc độ mở mới chỉ đạt 4 cửa hàng trong tháng 6 và tháng 7 thì tốc độ tăng hàng tồn kho của PNJ là nhanh hơn so với giai đoạn trước đó, nguyên nhân có thể đến từ hệ thống quản trị ERP mới của công ty. Dòng tiên kinh doanh tạm âm do việc đầu tư cho hàng tồn kho, điều này cũng thể hiện việc mở rộng quy mô của PNJ đang phụ thuộc rất nhiều vào đòn bẩy tài chính.

#BWE: Doanh thu quý 3 tăng trưởng 18.9 % nhưng lợi nhuận sau thuế suy giảm -17.5 %, nguyên nhân là cùng kỳ công ty được hoàn nhập gần 30 tỷ dự phòng đầu tư tài chính. Nếu chỉ tính hoạt động kinh doanh cốt lõi, lợi nhuận của công ty vẫn tăng trưởng 33.7% so với cùng kỳ. Cơ cấu tài chính vẫn chịu ảnh hưởng lớn sau khi bàn giao tài sản và công nợ của 4 Ban quản lý trực thuộc về cho Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương. Nợ vay dài hạn giảm gần 200 tỷ nhưng nợ vay ngắn hạn tăng lên mức 903 tỷ khiến tổng nợ vay BWE vẫn giữ ở mức cao và gấp 1.2 lần vốn chủ. Dòng tiền hoạt động kinh doanh dương 196 tỷ, tiếp tục là xương sống tài trợ cho các hoạt động khác của doanh nghiệp.

#NT2: Kết thúc quý 3 với mức tăng nhẹ 7.7% về doanh thu và lợi nhuận sau thuế đặt mức tăng trưởng ấn tượng khi gấp 6.5 lần cùng kỳ. Mặc dù con số lợi nhuận vẫn thấp hơn 2 quý đầu năm, xong kết quả kinh doanh này có thể coi là tích cực trong một quý thấp điểm của công ty. Một phần nguyên nhân đến từ mức tăng trưởng ấn tượng này là cùng kỳ NT2 có ghi nhận hơn 35 tỷ khoản lỗ chênh lệch tỷ giá trong khi năm nay lại không. Khoản phải thu ngắn hạn tăng 2230 tỷ, chủ yếu tăng lên từ phải thu ngắn hạn khách hàng. Đối ứng bên phần nguồn vốn khoản phải trả người bán tăng lên 1448 tỷ. Trong kỳ nợ vay không có sự thay đổi, tiền mặt tăng gần 300 tỷ lên mức 504 tỷ. Nhìn chung cơ cấu tài chính của NT2 vẫn ở mức an toàn, tỷ lệ nợ vay/vốn chủ giảm nhẹ về mức 56%.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *